TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI
TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI
Slide1 Slide2 Slide4

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

TÌM HIỂU VỀ CÁC VẬT LIỆU SỬ DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH THẨM MỸ MŨI

 

Chất liệu dùng trong tạo hình mũi là những nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo được sử dụng để cấy ghép vào cấu trúc mũi trong quá trình phẫu thuật tạo hình nhằm làm thay đổi cấu trúc và kích thước từng phần hay toàn bộ mũi vì mục đích điều trị hoặc thẩm mỹ .

1.2. Sơ lược lịch sử phát triển

Năm 3000 B.C. ca phẫu thuật tạo hình mũi đầu tiên đã được ghi nhận nhưng chưa sử dụng chất liệu cấy ghép mà chỉ dùng gạc đè  ép để điều trị vết thương.(theo Edwin Smith Surgical Papyrus) .

Năm 600 BC., trường hợp phẫu thuật tạo hình mũi đầu tiên có sử dụng chất liệu cấy ghép là vạt mô mềm tự thân vùng má được thực hiện bởi các thầy thuốc Ấn Độ như mô tả trong kinh Sushruta Veda.

Từ đó đến thời Trung cổ, rồi thời Phục hưng và cho đến năm 1794, các thầy thuốc vẫn chỉ sử dụng các vạt mô  mềm tự thân như vạt trán, vạt má, vạt cánh tay,. ..trong tạo hình mũi.

Sang thế kỷ 19, các thầy thuốc Đức, Pháp mà người tiên phong là Friedrich Dieffenbach đã rất thành công trong việc sử dụng nhiều loại vạt tổ chức tự thân để tạo hình mũi.

Quá trình sử dụng vạt mô mềm gặp một thất bại phổ biến là vạt không thể giữ được một hình thể ổn định cho tháp mũi, thậm chí gây hẹp lỗ mũi, bít tắc đường thở và hầu hết đều thất bại về mặt thẩm mỹ. Thực tế đó đặt ra một đòi hỏi về việc tìm một giải pháp tạo cho tháp mũi một bộ khung. Các vật liệu kim loại đã được đề xuất. Delpech dùng ống kim loại để giữ thông  lỗ mũi. Ollier sử dụng kim loại và bóng hơi để chống đỡ cánh mũi và giữ thông đường thở. Từ năm 1876, những chiếc mũi bạc (silver nose) được thực hiện cho các chiến binh Thổ nhĩ kỳ.  Cùng với các kim loại như vàng, bạc, aluminum, platinum, … nhiều vật liệu khác như cao su, sợi celluloid,… cũng được sử dụng để tạo khung đỡ cho câu trúc mũi. Các chất liệu tự thân như màng xương, xương, ..được sử dụng cùng với các vạt tổ chức hoặc lấy vạt cùng với cả xương làm lõi cứng cho vạt.

Sụn sườn được Mangoldt sử dụng làm sống mũi lần đầu tiên năm 1900. Từ đó, sụn tự thân được coi là một chất liệu tốt để tạo khung trụ cho mũi.

Ngoài các chất liệu tạo khung, các chất liệu sử dụng cho mục đích bù đắp khối lượng mô tổn khuyết cũng được tìm tòi sử dụng. Vaseline lần đầu tiên được Gersuny dùng để tiêm vào mũi, Paraffin được Ecktein dùng năm 1904. Nhưng các chất liệu này sau một thơi gian đã bị loại bỏ do mang lại kết quả không như mong muốn mà lại gây nhiều biến chứng như phản ứng tại chỗ, thuyên tắc mạch và nhất là thuyên tắc mạch phổi gây tử vong (pulmonary emboli)

Ngoài các chất liệu tự thân và đồng loại (homogenous) như mô đông khô từ sụn và da người chết, các chất liệu dị loại (heterogeneous) như sụn bò, sụn sườn vịt, ngà voi,… cũng được nghiên cứu sử dụng.

Chất liệu tổng hợp polymer polyethylene bắt đầu được  sử dụng cho mũi năm 1948 theo báo cáo của Rubin, Robertson và Shapiro.  Chất liệu composit được Brown và Canon sử dụng năm 1946. Từ 1940’, Silicone được ứng dụng trong y học và sau đó 20 năm đã trở thành chất liệu quan trọng lĩnh vực phẫu thuật tạo hình nói chung và tạo hình mũi nói riêng ((Andre Colas & Jim Curtis, Down Corning Corporation, Silicon Biometrials : History and Chemistry). Phổ biến cho mục đích thẩm mỹ là 2 dạng phổ biến là silicone lỏng (silicone oil) silicone rắn (silicone rubber). Các chất liệu tổng hợp polymer polyethylene polymer silicone là những chất liệu chủ yếu trong tạo hình mũi và vẫn được dùng phổ biến cho đến ngày nay.

  1. Các loại chất liệu
  1. Đặc tính của một chất liệu lý tưởng :

. Trơ về lý hóa và trung tinh về sinh học (inert)

. Dễ cắt gọt (easy to sculpt)

. Màu sắc tương hợp với mô (mimics color of tissue it replaces)

. Khả năng chống chấn thương (resistant to trauma)

. Khả năng chống nhiễm trùng (resistant to infection)

. Khả năng chống trồi lộ (resistant to extrusion)

. Không xâm lấn mô xung quanh (mechanically stable with respect to surrounding tissues)

. Dễ tìm (readily available)

. Không đắt tiền (inexpensive)

      . Dễ lấy bỏ (easy to remove)

. Có thể hấp sấy tiệt trùng (sterilizable)

. Có thể dùng nâng đỡ cấu trúc và bù đắp khối lương mô tổn khuyết (can be used for structural support and to replace lost tissue volume)

 

  1. Phân loại chất liệu :  theo nguồn gốc

1.2.1 Chất liệu sinh học tự nhiên  

A. Chất liệu tự thân (autograft):

 - Mỡ tự thân (autologous fat) : minimally invasive procedure

 Có thể là khối mô mỡ  (volumetric) hoặc dung dịch tế bào mỡ.

- Vạt tổ chức (mô mềm, mô mềm + cân mạc, xương, sụn)

- Sụn (cartilage) : sụn vách ngăn, sụn tai, sụn sườn

- Xương (bone) : xương xốp mào chậu, bản xương sọ

- Cân mạc (fascia) : cân thái dương

- Vạt da mỡ (dermofat graft)

B.  Chất liệu đồng loại (homograft)

- Sụn đông khô (irradiated cartilage)

- Da đông khô (alloderm) : dùng độn hoặc bọc chất liêu khác

C. Chất liệu dị loại (alloplastic, heterograft)):

- Sụn sườn bò, vịt,

- Ngà voi

1.2.2.Chất liệu tổng hợp : phân theo cách sử dụng

A. Các chất liệu cấy ghép không phẫu thuật :

Bao gồm các chất làm đầy (fillers) được bán tổng hợp (semisynthetic) từ các yếu tố  có nguồn gốc từ người, động vật hoặc hoàn toàn tổng hợp (synthetic), được sử dụng để bù đắp khối lượng mô trong các yêu cầu điều trị tổn khuyết hay yêu cầu thẩm mỹ. Trong thẩm mỹ, kỹ thuật sử dụng chất làm đầy để nâng mũi là một thủ thuật ít xâm lấn và có kết quả nhanh chóng.

Lịch sử của nâng mũi không phẫu thuật được ghi nhận bắt đầu từ đầu Thế kỷ XVIII với việc Bác sĩ khoa thần kinh  Leonard Corning ở New York và bác sĩ người Áo Robert  Gersuny sử dụng paraffin lỏng để làm đầy sống mũi hình yên ngựa. Nhưng sau đó người ta thấy những tác hại do parafin gây ra cho cơ thể.

Năm 1960 silicone y tế dạng lỏng đựoc sử dụng để nâng mũi, nhưng người ta theo dõi thấy nó cũng có những tác hại như gây ra những vết loét và tạo các u hạt. Để hạn chế tác hại, từ năm 2000 ra đời phương pháp tiêm silicon “nhỏ giọt” với các liều nhỏ và tiêm nhiều lần.

 2002, Rivkin ( bác sĩ TMH người Mỹ) bắt đầu sử dụng Restylane và Radiess để nâng mũi và sau đó được FDA cho phép. Và đến nay ông vẫn được coi là người có nhiều kinh nghiệm nhất trong thủ thuật nâng mũi bằng fillers.

-Hyaluronic acid  (HA ): 

          Hyaluronic acid có trong thành phần tổ chức cơ thể, chủ yếu ở tổ chức liên kết, da, sụn, mô thần kinh. Cơ thể người có trung bình 15 gr HA và mỗi ngày có 1/3 tổng số đó bị thoái biến bởi men hyaluronidasase. Các đặc tính làm đầy khuyết mô da và phục hồi duy trì chức năng da của HA được xác định lần đầu tiên năm 1934 bởi Karl Meyer và John Palmer, Columbia University, New York  với một tinh chất chiết xuât từ mắt bò. Do vậy chất này được đặt tên là HA do ghép từ tiếng Hylạp của 2 thành phần chính Hyalos(thể thuỷ tinh –glass body) uronic (uronic acid).  HA không tồn tại độc lập trong tự nhiên nên phải được đồng phân hoá thay đổi cấu trúc phân tử bằng các mối liên kết ngang với các chất khác để tạo ra các sản phẩm khác nhau cùng nhóm gốc. Như nối với  thiols tạo Extracel, HyStem; nối với methcrylate tạo Corgel; nối với formaldehyde tạo Hylane A; nối với diviny lsulfone tạo Hylane B. Năm 2003 FDA Mỹ chính thức cho phép nghiên cứu sử dụng các sản phẩm HA trong y tế và thẩm mỹ mà sản phẩm đầu tiên là Restylane.

Hiện nay, nguồn HA để sản xuất filler được thu từ 2 nguồn: Vi khuẩn lên men (bacterial fermentation) động vật (mào gà trống).

- Restylane : là sản phẩm tiêu biểu chứa HA có nguồn gốc không động vật (non-animal source) đầu tiên trên thị trường . Và cũng là sản phẩm HA đầu tiên được FDA Mỹ cho phép sử dụng là chất làm đầy trong thẩm mỹ (Mar 25 2005 approval)

Cùng họ Restylane còn có Juvederm, Perlane, Prevell dều đã được FDA cho phép sử dụng.

- Calcium hydroxyapatite Radiesse (CaHA)

Sản phẩm của Merz Aesthetic Inc.thuộc Merz Pharma Gamble

Chứa các particle là những calcium-based microsphere lơ lửng trong water-based gel, kịch thước lớn 25-40 micron có thể nhìn thấy dưới X-ray và CT scan. Các phân tử tập hợp tạo thành những khối phồng đệm dưới da và kích thích sản sinh collagen tại chỗ. Tác dụng  kéo dài đến 1 năm.

- Polymethylmethacrylate (PMMA) :

Gồm 20 %  những chuỗi hạt (bead particles) trong dung dịch dạng gel (gel-like solution) chiếm 80 %, tác dụng semi-permanent.

          *Artefill (PMMA microsphere+ bovine collagen) là một chế phẩm của PMMA được FDA approved năm 2006.

          Sản phẩm của Suneva Medical Inc. chứa các particle có kích thước 30 – 50 micron trong dung dịch collagen bò nguyên chất.

 

- Polyacrylamide gel (Aquamid) :

          Sản phẩm do Contura International, UK, sản xuất và phân phối.

 Trong thành phần không có silicone, microsphere mà chứa các microparticle luôn ở trạng thái cân bằng động với môi trường tổ chức chung quanh, thu hút mô tổ chức tạo thành một màng bao quanh  nhờ vậy các phân tử trương lên mọt cách bền vững, có tác dụng dài > 5 năm. Đã có 30 000 người sử dụng ở Châu Âu, châu Á, châu, Mỹ La tinh và 5000 người ở Mỹ với 0,1% biến chứng liên quan đến nhiễm trùng mà chưa có trường hợp nào bị dị ứng, quá mẫn cảm, viêm, tạo bao xơ hay tạo u hạt, v.v…Đã được phép sử dụng ở Châu Âu nhưng vẫn chưa được FDA cho phép phân phối tại thị trường Mỹ.

 

  1. Chất liệu cấy ghép phẫu thuật :

 

  1. Sụn tai (auricular cartilage):
  • Chỉ định : Tạo hình đầu mũi, cánh mũi
  • Cách lấy : lấy sụn Hố tai (Cavum & Cymba cavity), ở cả 2 tai qua đường rạch trước hoặc sau loa. Chú ý bảo vệ gờ nhĩ luân (helix), đối nhĩ luân (anti-helix) để không bị nguy cơ biến dạng vành tai. Có thể lấy kèm mạc sụn (perichodrium) hay để lại tùy theo phẫu thuật viên.
    1. Sụn vách ngăn mũi (septal cartilage) :
  • Chỉ định : nâng cao sống, làm trụ mũi, kéo dài đầu mũi, nối dài sụn vách ngăn. 
  • Cách lấy :

. Tê tại chỗ : giảm đau và bóc tách màng sụn.

Tiêm dưới màng sụn lidocaine có 1/100000 epinephrine tại nhất 3 điểm.

. Rạch mang sụn cách đuôi sun 2 mm

. Bóc tách màng sụn, bộc lộ sụn

. Rạch sụn cách bờ đuôi sụn và bờ trên 10-15 mm

. cắt rời sun theo đường rạch bằng kéo và tách rời đầu sụn khỏi xương.

. Màng sụn được khâu lại và đặt dẫn lưu.

 . Chèn gạc ép 2 bên khoang mũi trong 1-3 ngày sau mổ để ngăn ngữa hematoma và giữ cho phần khung sụn còn lạikhông bị biến dạng.

  1. Sụn sườn :
  • Chỉ định :Khi khối lượng sụn tai và vách ngăn không đủ đáp ứng yêu cầu.
  • Cách lấy : Đường rạch da theo nếp dưới vú để dấu sẹo.

. Sụn cần ngắn # 3 cm, lấy sụn 5 hoặc 6 qua đường nếp dưới vú.

. Sụn cần dài 5-6 cm lấy từ sườn 7-8-9.

. Rạch da 3 cm theo đường nếp vú cách từ cách 1 cm phía trong điểm nối đường núm vú xuống đường nếp vú.

 . Tách các cơ bộc lộ màng sụn, rạch màng sụn hình chữ H bộc lộ sụn. Dùng dụng cụ nâng sụn lên cắt 2 đầu.

. Đảm bảo màng sụn bên dưới và màng phổi không bị tổn thương.Kiểm tra sự an toàn bằng dung dich nước muối sinh lý tại nơi lấy sụn sườn.

. Ngâm khối sụn vào nước muối 30’ để ổn định hình dạng trước khi đẽo gọt.

. Tùy yêu cầu có thể sử dụng sụn sườn nguyên khối hoặc xẻ lát mỏng hoặc thái nhỏ bọc lại.

 

  1. Xương mào chậu :
  • Chỉ định : Khi không còn nơi lấy sụn tự thân hoặc do phẫu thuật viên thích sử dụng xương xốp mào chậu.
  • Cách lấy :

. Gây tê tại chỗ

 . Rach da 3 cm mào chậu.

Bóc tạc bộ lộ mào chậu.

Đục lây khối xương mào chậu theo yo da mô vùng sống mũi, đầu mũiêu cầu.

  1. Cân thái dương :
  • Chỉ định : Khi cần bọc chất liệu nâng sống mũi.  Khi cần thêm khối lượng mô đệm cho sống mũi hoặc các điểm cần độ dày của da và mô dưới da.
  • Cách lấy :

. Vị trí : vùng thái dương, 1 cm phía trước và 3 cm phía trên vành tai.

. Rạch da 3 cm.

. Bóc tách bộc lộ cân sâu thái dương. Chú ý tránh làm tỏn thương động mạch thái dương nông.

. Lấy diện tích  cân sâu thái dương theo yêu cầu.

. Đóng vết mổ.

  1. Vạt da mỡ không biểu mô (de-epithelized dermofat graft).
  • Chỉ định : Để bổ sung khối lượng cho tháp mũi.

Khi cần tăng độ dày cho da-mô vùng sống mũ và đầu mũi, cánh mũi.

  • Cách lấy :

. Vị trí : vùng mông,vùng cùng cụt, hạ vị và nơi có da- mô dày.

Nếu lấy vùng cùng-cụt, đường rạch phải lệch ra khỏi đường giữa để vết thương dễ lanh và không bị nguy cơ lộ xương cùng-cụt.

. Vẽ vùng cần lấy vạt da..

. Gây tê tại chỗ

. Bóc lớp biểu bì (de-epithelial)

. Rạch bóc tạc lấy vat với lớp mỡ và mô dưới da.

. Vì miếng ghép da-mỡ có thể co nhỏ lại sau khi lấy và cả sau khi ghép nên phải lấy vạt ghép có diện tích và khối lượng lớn hơn yêu cầu.

 

  1. Silicone :

 Silicone dùng làm chất liệu cấy ghép thẩm mỹ là một hợp chất cao phân tử (polymer) của silicon (Si) với carbon, hydrrogen, oxygen và một số nguyên tố khác (polydimethylsiloxane). Silicone có cấu trúc hoá học là chuỗi liên kết dài của Silicon (Si) và Oxygen ( -Si-O-Si- O-Si-). Sự thay đổi cấu trúc phân tử bằng những mối liên kết ngang với các phân tử khác tạo ra những sản phẩm có định dạng khác nhau như silicone lỏng (oil), Silicone dẻo (resin), silicone rắn (rubber).

          Môt chế phẩm của silicone được dùng phổ biến trong tạo hình mũi là Silastic

Silastic :

Silastic (chữ ghép của silicone plastic) là tên thương mại của sản phẩm silicone dẻo (silicone elastomer) được hãng Dow Corning đăng ký từ năm 1948. Silastic chính là polydimethylsiloxane được nối ngang (cross-link) với phân tử hydrrogen.

 Silicone dạng này rất quen thuộc với giới làm đẹp vì nó chính là các loại miếng ghép cấy độn cho nhiều vùng cơ thể: sống mũi, cằm, má, bắp chân, cơ ngực, mông, v.v...Dạng silicone này đã được sử dụng từ lâu và hiện vẫn đang được sử dụng phổ biến trên thế giới. Ngoài những đặc tính chung của silicone, silastic còn có nhiều ưu điểm thuận lợi cho sử dụng như mềm mại, dai, chắc, dễ thao tác khi phẫu thuật, dễ đẽo gọt chỉnh sửa theo yêu cầu, dễ tạo hình theo hình dạng của cơ quan cần cấy ghép. Nếu kết quả thẩm mỹ chưa hài lòng có thể lấy ra để thay đổi chỉnh sửa rất dễ dàng.

          Đặc điểm của silicone implant mũi :

  • Hiệu quả thẩm mỹ lâu dài
  • Hinh thành bao capsule nên không dính với tổ chức lân cận, di động, dễ lấy ra thay thế chỉnh sửa.
  • Vôi hóa (calcification) do lắng đọng calcium  trên bề mặt implant hoặc mặt trong của capsule làm cho hình dạng sống gồ ghề có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy.

  1. Gore-Tex :

 là tên thương mại của ePTFE (expanded polytetrafluoroethylene)

PTFE (polytetrafluoroethylene) là một dạng polymer của ethylene (polyethylene) được sáng chế năm 1966 bởi John Cropper, New Zealand. Năm 1969, Wilbert L.Gore, Robert Gore và cộng sự (Mỹ) đã nghiên cứu công nghệ kéo dãn PTFE  tạo ra ePTFE là một sản phẩm dai chắc xốp, có rất nhiều lỗ nhỏ li ti (porousmolecular structure), có khả năng chống thấm nước và bay hơi nước ePTFE (water proof  and breathable). Đăng ký bản quyền sáng chế năm 1976. Năm 1978 sản phẩm được tung ra thỉ trường với tên thương mại Gore-Tex ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực đời sống (như vải sợi Teflon).

Tấm màng Gore-Tex (Gore-Tex membrane) với 9 tỉ lỗ nhỏ / inch vuông mà mỗi lỗ có kích thước nhỏ hơn 20 000 lần giọt nước và 700 lần lớn hơn phân tử hơi nước, nhờ đó nước không thấm vào được nhưng nước bên trong lại có thể bốc hơi dễ dàng. (W. L. Gore & Associates, Inc., 2013).  Đường kính sợi 5-10 um, kích thước lỗ 10-30 um (Thomas Romo et al).

EPTFE được Soyer sử dụng trong lâm sàng lần đầu tiên năm 1972 để nối ghép mạch máu. Năm 1983 được tác gỉa Neel sử dụng trong tạo hình vùng mặt. Năm 1993 được FDA cho phép sử dụng trong tạo hình thẩm mỹ. Thường được sử dụng dưới 2 dạng : tấm lưới (sheet) & khối rắn (block). Dạng tấm lưới có lỗ nhỏ hơn dạng khối và mềm hơn. Trong Tạo hình mũi chủ yếu sử dụng dạng khối rắn có thể gọt tạo hình (sculpted block type).

Đặc điểm :

- Hiệu quả thẩm mỹ kém ổn định hơn silicone

- Có thể nắn chỉnh định dạng sau khi đặt

- Không hình thành bao capsule mà mô lân cận mọc vào và dinh liền với implant nên ít bị vạn xoắn, ít di động hơn mà khó lấy ra khi cần.

- Nguy cơ nhiễm trùng cao hơn vật liệu khác.

- Ít bị vôi hóa hơn silicone.

  1. Medpor (Porex, Plastipor) :  chế phẩm của porous ePTFE

Do Paul O’Keeffe  sáng chế năm 1999 và hãng Porex Surgical sản xuất với tên thương mại Medpor. Kích thước lỗ của Medpor lớn 100-250 um cho phép không chỉ mô mềm mà cả mô sụn xương có thể mọc vào bám dính.

          Medpor và Gore-Tex là 2 chất liệu nâng mũi phổ biến nhất ở Mỹ. 2 chất liệu này có đặc tính khác nhau trong đó Gore-Tex tương đối an toàn hơn, mềm hơn Medpor nên được sử dụng nhiều hơn.Tỉ lệ nhiễm trùng của Gore-Tex là 5 %, Medpor là 19 %. Theo Thomas Romo với 300 cases trong 9 năm, tỉ lệ nhiễm trùng 3-4 %. Medpor có thể dùng làm sống mũi, trụ mũi (columella strut)

  1. Supramid mesh (polyamid mesh) : sản phẩm của hãng Ethicon Sommerveille, New York, là một organopolymer của E-caprolactam, cấu trúc mềm mại hợp với mô mềm, có chứa hắc tố (black pigment) có khả năng liên kết phát triển với tế bào tổ chức tại chỗ. Tỉ lệ nhiễm trùng 0.8 %, tỷ lệ biến dạng 1.5 %.

 

  1. Mersilene mesh  (polyethylene mesh) : cũng là sản phẩm của  của Ethicon Sommerveille, ra đời năm 1950. Sản phẩm là những tấm sợi không tiêu (nonabsorble) 30 x30 cm, có thể hấp tiệt trùng. Tính chất mềm mại, không sờ thấy dưới da.

 

  1. Prolene mesh (polypropylene mesh) ; có cấu trúc tấm lưới sợi đan (như chỉ prolene). Sản phẩm của Ethicon Prolene Suppliers.

 

  1. Surgicel (methylcellulose) : cũng là sản phẩm của Ethicon có dạng tấm lưới đan bằng sợi cellulose, không tan. Thường dùng để cầm máu trong phẫu thuật. có thể làm chất liệu độn ghép, mềm mại, an toàn.

 

3.Những biến chứng khi sử dụng chất liệu cấy ghép

3.1. Biến chứng với chất làm đầy :

 - Phản ứng dị ứng

     Các HA filler thị trường có nguồn gốc từ động vật hoặc nuôi cấy vi sinh vạt.  Và do HA tự nhiên bị thoai biến khá nhanh nên phải được xử lý thay đổi cấu trúc hoá học (chemical cross-linking) tạo ra các hạt phần tử HA (particles). Quá trình xử lý này có thể tạo ra những yếu tố hoá học có hại gây dị ứng hay gây viêm nhiễm khi sử dụng.Do đó thử phản ứng là yêu cầu bất buộc khi sử dụng chế phẩm HA.

- Các hạt phần tử HA có tác dụng làm đầy tốt nhưng cũng dễ gây biến dạng tại chỗ sau khi chích làm sai lệch kết quả thẩm  mỹ.

- Nếu lọt vào mạch máu có thể gây thuyên tắc phổi (pulmonary embolie) nguy hiểm đến tính mạng.

- Nhiễm trùng là vấn đề thường gặp nhất tỏng qua strình sử dụng.  

3.2. Biến chứng với chất liệu cấy ghép phẫu thuật :

     Những nguy cơ :

     - Dị ứng tại chỗ và toàn thân (local & systematic reaction)

     - Viêm phản ứng (inflammation & hypersensitivity reaction)

     - Nhiễm trùng (infection)

     - Lộ chất liệu (extrusion)

     - Lệch chỗ (displacement)

     - Biến dạng ( deviation)

3.3. Đánh giá về chất liệu silicone :

     Theo báo cáo tổng kết 40 năm sử dụng silicone trong tạo hình tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình và Tái tạo Mặt của Bệnh viện Lenox Hill, New York :

  • Silicone là polymer khá ổn định cấu trúc
  • Silicone rubber (silastic) có thể sử dụng làm sống mũi, đầu mũi
  • Là loại chất liệu không cấu trúc lỗ (non-porous) có khả năng ngăn làm giảm sự phát triển của vi khuẩn ngăn ngừa nhiễm trùng nhưng lại dễ di lệch vì không có sự bám dinh (ingrowth) của mô.
  • Phản ứng chính với silicone là tạo thành bao xơ. Khi nào bao xơ chưa hình thành thì vẫn còn khả năng dịch chuyển.
  • Bao xơ quá phát có thể làm mũi thô cứng, kém thẩm mỹ và có thể gây vặn xoắn.
  • Khi mô che phủ ít, mỏng và chật chội thì khả năng trồi lộ (extrusion) rất cao. 
  • Miếng silicone có thể trở thành nơi trú ngụ của vi khuẩn và là vật cản ngăn chặn sự tập trung của kháng sinh.
  • Tỉ lệ extrusion của silicone khi làm sống mũi là 10 %, khi làm trụ mũi là 50 %. (Theo TS Nguyễn Huy Thọ, tỉ lệ lộ sống silicone ở Việt Nam khoảng 30 %)
  • Nguy cơ lộ sống tồn tại theo sụ tồn tại của miếng ghép, đã có báo cáo lộ sống sau 20 năm.
  • Với bênh nhân châu Á nguy cơ nhiễm trùng và lộ sống thấp hơn do da và mô che phủ dày hơn.

Tuy nhiên theo tác giả Frederik Joelving và nhiều tác khác, ghép bằng sụn của chính bệnh nhân vẫn là giải pháp tốt nhât. (Common nose implant has high infection rate : study, New York Mon Aug, 27, 2012 ).

 

 

Coppyright © 2016 Phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ Bác sĩ Cao Ngọc Bích. All right reserved. Design by Nina.vn
Đang online: 3 | Trong ngày: 29 | Tổng truy cập: 94993
backtop